Tên đề tài: Tháo gỡ những rào cản trong tiếp cận vốn vay chính thức của hộ gia đình, góp phần xây dựng nông thôn mới ở khu vực Tây Bắc, Việt Nam.
Mã số: 502.01-2016.12
Chủ nhiệm: TS. Đỗ Xuân Luận
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên
Thời gian thực hiện: 24 tháng (từ tháng 7/2017 đến tháng 7/2019)
Cơ quan tài trợ: Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Nafosted
Nghiệm thu ngày: 24/11/2019
Kết quả nghiệm thu: Đạt, có vượt trội về số bài báo
Sản phẩm đạt được: 5 bài báo quốc tế trong danh mục uy tín, 6 bài báo trong nước, 1 sách tham khảo và đào tạo 3 thạc sĩ.
Tóm tắt một số kết quả nghiên cứu:
1. Động lực và mục tiêu nghiên cứu
Thiếu tiếp cận tín dụng đã và đang trở thành rào cản kết nối các hộ nông dân quy mô nhỏ tham gia chuỗi giá trị bền vững. Nghiên cứu này được thiết kế nhằm phân tích những rào cản trong tiếp cận tín dụng chính thức của các nông hộ với góc nhìn mới từ phát triển chuỗi giá trị. Kết quả phân tích sẽ gợi ý các chính sách nhằm khơi thông luồng vốn tín dụng cho nông nghiệp, đặc biệt là các hộ quy mô nhỏ ở Tây Bắc, Việt Nam.
2. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Trọng tâm của phân tích là các vấn đề về tiếp cận tín dụng chính thức ở cấp độ nông hộ với góc nhìn từ phát triển chuỗi giá trị. Những hộ tham gia vào chuỗi giá trị được trọng tâm phân tích là các hộ tham gia vào chuỗi giá trị quế và măng vì đây là những chuỗi tiềm năng trong phát triển kinh tế vùng.
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng dữ liệu chéo (cross-sectional data) để phân tích các rào cản trong tiếp cận tín dụng của các hộ và các tác nhân khác trong chuỗi. Tiếp cận tín dụng của các nông hộ tham gia hai chuỗi giá trị khác nhau để kiểm chứng tính nhất quán của các rào cản tiếp cận tín với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau. Những phát hiện từ nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ đóng góp vào các sáng kiến thực tế trong việc cung cấp tín dụng cho các hộ nông thôn tham gia phát triển chuỗi giá trị bền vững.
Nguồn tín dụng được tập trung phân tích là nguồn chính thức từ ngân hàng vì đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất, ổn định và có mức tác động lớn đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn nói riêng và nền kinh tế nói chung.
3. Những đóng góp mới của nghiên cứu
Nghiên cứu này phân tích, đánh giá các vấn đề tiếp cận tín dụng của hộ với góc nhìn mới từ phát triển chuỗi giá trị. Sự tham gia của các hộ vào chuỗi giá trị và những thách thức trong tiếp cận tín dụng chính thức sẽ được phân tích và lý giải toàn diện hơn.
Nghiên cứu phân tích tiếp cận tín dụng của các hộ tham gia vào chuỗi giá trị dược liệu và thực phẩm trong bối cảnh phát triển những ngành này có ý nghĩa lớn trong giảm nghèo của cộng đồng dân tộc thiểu số. Nghiên cứu thảo luận vấn đề tiếp cận tín dụng của các hộ sản xuất quy mô nhỏ và các tác nhân khác tham gia vào chuỗi giá trị.
Xét về phương pháp, nghiên cứu này thu thập dữ liệu từ nhiều bên, phản ánh toàn diện các mặt liên quan đến tiếp cận tín dụng. Phương pháp nghiên cứu định lượng (PSM, Heckman, BMA) và định tính được vận dụng đồng thời để tăng độ tin cậy của các kết quả phân tích.
Nghiên cứu này lựa chọn vùng Tây Bắc Việt Nam, nơi tập trung đa số cộng đồng dân tộc thiểu số và phải đối mặt với nhiều thách thức trong giảm nghèo và biến đổi khí hậu để tiến hành nghiên cứu. Những phát hiện từ nghiên cứu này sẽ đóng góp vào các sáng kiến thực tế trong việc cung cấp tín dụng nông thôn để phát triển chuỗi giá trị bền vững ở những vùng có điều kiện tương đồng.
4. Xây dựng khung lý thuyết
Các luận điểm khoa học đã được tổng hợp theo chủ đề từ khoảng 280 tài liệu tham khảo, chủ yếu là các công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín. Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài. Khung lý thuyết chuỗi giá trị được xây dựng trên cơ sở lấy nhu cầu thị trường là điểm xuất phát. Việc đáp ứng các yêu cầu thị trường khiến các mối liên kết trong chuỗi được phát triển. Người tiêu dùng cuối cùng luôn quan tâm đến chất lượng các loại thực phẩm như sự an toàn, giá trị kinh tế, độ thân thiện với môi trường trong sản xuất và tiêu dùng nông sản. Do vậy, để nguyên liệu được sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường thì cần có sự đầu tư lớn hơn từ các tác nhân đầu của chuỗi như các nông hộ. Theo lập luận này, nông hộ sẽ có nhu cầu vốn lớn và điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về những rào cản trong tiếp cận vốn vay chính thức của các nông hộ tham gia chuỗi giá trị.
5. Thu thập số liệu
5.1 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 711 hộ, trong đó 548 hộ tham gia chuỗi giá trị quế và 163 cuộc đối với các hộ tham gia chuỗi giá trị măng. Ngoài ra, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp đại diện của 10 doanh nghiệp (9 doanh nghiệp trong chuỗi quế và 01 doanh nghiệp trong chuỗi măng), 5 HTX (4 HTX quế, 1 HTX măng); 4 ngân hàng Agibank chi nhánh huyện; 4 ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh huyện, 4 trung tâm dịch vụ nông nghiệp, 18 Hội liên hiệp phụ nữ, 18 Hội nông dân xã và 18 UBND xã.
5.2 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp từ các nguồn đã công bố chính thức như báo cáo của ngân hàng, các báo cáo của Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện. Ngoài ra, số liệu còn được thu thập từ báo cáo của ủy ban nhân dân xã, của các tổ chức chính trị xã hội tại xã. Số liệu từ niên giám thống kê giai đoạn 2014-2018 và số liệu được tổng hợp từ các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước.
6. Phương pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu này sử dụng đồng thời cả phương pháp phân tích định lượng và phân tích định tính trên cơ sở sử dụng số liệu từ phỏng vấn trực tiếp các bên liên quan. Thông tin thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn sâu được sử dụng để bổ sung cho phân tích định lượng. Các phương pháp phân tích số liệu sử dụng chính trong đề tài gồm:
6.1 Sử dụng đồng thời hai cách tiếp cận trong phân tích yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng được vận dụng đồng thời: thực tế tiếp cận và rào cản tiếp cận tín dụng
6.2 Mô hình ước lượng Heckman 2 bước
6.3 Mô hình Credit Rationing được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dư cầu tín dụng ở cấp hộ
6.4 Phương pháp ghép cặp (Propensity Score Matching-PSM) được sử dụng để ước lượng tác động của tín dụng tới thu nhập của hộ
6.5 Sử dụng phương pháp trung bình hóa mô hình theo cách tiếp cận Bayes (Bayesian Model Average- BMA)
7. Các kết quả nghiên cứu chính
7.1. Thông tin cơ bản về các hộ và doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị được khảo sát trong mối liên hệ với tiếp cận tín dụng chính thức
Trong số các hộ khảo sát, có 29% số hộ là dân tộc Kinh, còn lại là các dân tộc khác như dân tộc Dao, Tày và Nùng. Số hộ khảo sát nhận được chứng chỉ canh tác quế hữu cơ chỉ chiếm 9% và chưa có hộ canh tác măng theo quy trình hữu cơ. Số hộ là thành viên hợp tác xã chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 2% trong tổng số. Số hộ được tham gia các khóa tập huấn chiếm 14,12% và có khoảng 23% số hộ khảo sát là các thành viên của hội nông dân và hội phụ nữ, những tổ chức có vai trò rất tích cực trong kết nối cung cầu tín dụng và tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho nông dân. Tuy nhiên, nội dung tập huấn chủ yếu về về kỹ thuật canh tác và thu hoạch, bảo quản sản phẩm măng và quế. Tỷ lệ số hộ có tài khoản ngân hàng rất thấp, trung bình chiếm khoảng 10,97% số hộ, trong đó có 13% số hộ quế và 3% số hộ măng. Những hộ thực tế không sử dụng tài khoản chủ yếu là do mức thu nhập thấp nên nhu cầu giao dịch tài chính qua tài khoản cũng hạn chế. Bên cạnh đó, các rào cản về khoảng cách địa lý xa trung tâm, mức độ bao phủ giới hạn của các điểm giao dịch ngân hàng thương mại ở vùng núi cũng là những rào cản tiếp cận tài khoản chính thức. Toàn bộ chủ hộ được phỏng vấn có điện thoại di động, trong đó khoảng 70% là điện thoại thông minh. Số hộ là thành viên hợp tác xã chỉ chiếm khoảng 2% đối với các hộ quế. Các hộ măng được phỏng vấn không là thành viên HTX. Kết quả này phản ánh mức độ phát triển và vai trò của HTX trong kết nối các hộ sản xuất quy mô nhỏ với thị trường thông qua hợp tác, liên kết trong trong tiêu thụ là rất hạn chế. Bên cạnh đó, mức độ bao phủ thấp của HTX cũng gây trở ngại trong tổ chức các khóa tập huấn chuyển tải kiến thức tới người nông dân và tạo ra sức mạnh thị trường cho các hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Doanh nghiệp, HTX được khảo sát có quy mô bình quân khoảng 15-30 lao động. Khoảng 50% giám đốc của các tổ chức này có trình độ đại học và kinh nghiệm quản lý từ 10-15 năm. Các doanh nghiệp, HXT cho biết giá trị sản phẩm có thể tăng từ 2-5 lần nếu các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ, và có thể xuất khẩu sang thị trường cao cấp hơn như Mỹ, EU và Nhật Bản. Toàn bộ các doanh nghiệp, HTX có tài khoản ngân hàng. Liên kết giữa doanh nghiệp, HTX với các hộ chủ yếu được thực hiện thông qua ứng trước kinh phí để thu mua măng và quế. Khoảng 33% các hộ quế, 3% số hộ măng nhận tiền ứng trước từ các trung gian thu mua quế. Toàn bộ các doanh nghiệp, HTX được phỏng vấn có nhu cầu vay vốn và thực tế đều được tiếp cận vốn ngân hàng. Tuy nhiên, lượng vốn chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vốn đăng ký. Đây được coi là một loại tín dụng thương mại từ các trung gian thu mua để hỗ trợ cho các hộ thuê nhân công thu hoạch, sấy và lưu trữ sản phẩm quế với cam kết bán lại cho trung gian ứng trước. Tuy vậy, sản phẩm thu mua từ doanh nghiệp, HTX đối với các hộ trong chuỗi không được thực hiện qua hợp đồng.
7.2. Động lực tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ tham gia chuỗi giá trị
Động lực tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ tham gia chuỗi giá trị xuất phát từ hai nguồn chính. Nguồn thứ nhất xuất phát từ yêu cầu ngày càng gia tăng của người tiêu dùng đối với chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm về dược liệu và các thực phẩm. Do vậy, nguồn nguyên liệu cho sản xuất các sản phẩm trong chuỗi cần được cải thiện chất lượng. Các doanh nghiệp, HTX trong chuỗi sẽ gia tăng các yêu cầu, qua đó tạo áp lực cho các hộ - tác nhân đầu trong chuỗi để đầu tư, cải thiện chất lượng sản phẩm. Các sản phẩm từ quế như tinh dầu quế, vỏ quế khô thường được xuất khẩu sang Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ và Srilanka. Các sản phẩm từ măng thường được sơ chế và xuất khẩu sang Đài Loan và Nhật Bản. Các sản phẩm như măng củ, măng non cần không bị dập nát. Măng ống cần dài từ 4cm trở lên, với đường kính ngọn lớn hơn 5cm và chiều dài lớn hơn 35cm. Thu hoạch măng cần tiến hành theo quy trình bên mua yêu cầu. Sản phẩm từ quế như vỏ quế cần có màu vàng, dày, giòn, cay, không nấm mốc, không hóa chất. Thân cây quế, thường được sử dụng để sản xuất các sản phẩm thủ công và nội thất cần phải to, thẳng và không có sâu đục thân. Lá quế tươi cần có màu xanh đậm. Lá quế khô có màu vàng, không nấm mốc và hóa chất. Nguồn áp lực thứ hai của các hộ đến từ thực trạng thiếu hụt vốn đầu tư. Chẳng hạn, theo kết quả khảo sát đối với các hộ trồng măng, suất vốn đầu tư cho măng Bát Độ trong 3 năm đầu tiên là khoảng 49,25 triệu đồng/ha. Trong khi đó, vốn tự có và hỗ trợ của nhà nước đầu tư cho 3 năm đầu tiên chỉ đáp ứng được 46,97% suất đầu tư bình quân cho 1 ha. Do vậy, các hộ có nhu cầu vay khoảng trên 50% để đáp ứng suất đầu tư. Tuy nhiên, khi phỏng vấn các nông hộ có nhu cầu vay vốn, lượng vốn vay đăng ký bình quân là 65,43 triệu đồng, gấp 2,83 lần số vốn vay nhận được bình quân và điều này cho thấy hạn mức tín dụng mà các hộ phải đối mặt. Nhu cầu vốn vay từ các hộ là khá lớn nhằm mua phân bón, chăm sóc, phát tỉa, khai thác măng theo đúng theo quy trình kỹ thuật. Tương tự, vốn tự có của các hộ quế chỉ đáp ứng được khoảng 53,94% nhu cầu đầu tư. Do chu kỳ sản xuất dài hơn, nông dân có nhu cầu lớn hơn đối với các khoản vay dài hạn.
Doanh nghiệp và HTX cần vốn vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động thông qua ứng trước cho nông dân trong quá trình thu mua nông sản. Sau khi xuất khẩu măng và quế, các doanh nghiệp và HTX sẽ hoàn trả ngân hàng. Ngoài ra, tín dụng dài hạn cũng cần thiết để đầu tư công nghệ chiết xuất tinh dầu quế nhằm cản thiện chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang thị trường cao cấp hơn như Nhật Bản, EU và Mỹ. Các doanh nghiệp, HTX kinh doanh măng cần vốn dài hạn để xây dựng xưởng sơ chế, làm lạnh và bảo quản sản phẩm, giúp họ chủ động hơn và có lợi hơn trong khâu tiêu thụ măng.
7.3. Thực trạng tiếp cận vốn chính thức
Đối với nguồn cung tín dụng chính thức, ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) và Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn (Agribank) là 2 tổ chức cung ứng tín dụng chính trên địa bàn. Trong khi Agribank cho vay với lãi suất thị trường dựa vào thỏa thuận và hợp đồng vay vốn, VBSP cho vay ưu đãi từ hỗ trợ của chính phủ. Theo số liệu của ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Yên Bái, dư nợ tín dụng của Agribank trong những năm gần đây chiếm tỷ trọng từ 45,8% trở lên trong tổng dư nợ. Agribank dẫn đầu về thị phần lượng vốn vay cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Các khoản vay từ Agribank thường đòi hỏi thế chấp tài sản và phương án sử dụng vốn khả thi để xét duyệt các hồ sơ vay vốn. VBSP cung cấp các khoản vay tín chấp, được giải ngân thông qua hội nông dân, hội liên hiệp phụ nữ với sự bảo lãnh của UBND xã. Các tổ chức hội hợp tác với ngân hàng trong xét duyệt hồ sơ vay vốn, lập danh sách thành viên, giải ngân, giám sát quá trình sử dụng vốn và thu hồi nợ. Chính sách cho vay của VBSP phụ thuộc vào quyết định của Bộ tài chính và các chương trình của chính phủ nhằm hỗ trợ đặc biệt cho nông nghiệp, nông thôn và các nhóm yếu thế.
Đối với các hộ được phỏng vấn, tổng số hộ thực tế có vay vốn trong vòng 24 tháng tính đến thời điểm phỏng vấn chiếm 53% đối với hộ măng và 51,64% đối với hộ quế. Khoảng 27% hộ măng và 25,36% hộ quế có nhu cầu tín dụng nhưng thực tế không vay vì các lý do khác nhau như: đã vay nhưng bị từ chối do không đủ điều kiện theo quy định của ngân hàng; sợ không trả được nợ; không biết thông tin về các nguồn vốn vay; không có tài sản đảm bảo; phương án sử dụng vốn chưa khả thi; chưa biết cách đầu tư hiệu quả từ nguồn vốn tín dụng. Các hộ gia đình được vay lượng trung bình là 46,13 triệu đồng và lượng vốn vay chỉ đáp ứng được khoảng 63,19% nhu cầu của hộ canh tác măng, 80,01% nhu cầu hộ canh tác quế. Xét theo nguồn tín dụng, lượng vốn vay trung bình các hộ măng vay tại Agribank là 53,86 triệu đồng/hộ với lãi suất trung bình là 0,82%/tháng. Lượng vốn vay trung bình từ VBSP là 32,46 triệu đồng/hộ với lãi suất trung bình là 0,61%/tháng, thấp hơn lãi suất thị trường do được nhà nước trợ cấp. Nhìn chung, kỳ hạn của một khoản vay khá dài, trung bình khoảng 4 năm do nông hộ sử dụng vốn vay cho hoạt động trồng, chăm sóc măng và quế với chu kỳ dài ngày. Thời gian chờ đợi xét duyệt vốn khá nhanh với khoảng thời gian trung bình là 1 tuần làm việc để đảm bảo cung ứng vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu của nông hộ.
Xét về phương diện thế chấp tài sản, trung bình có 23,33% số khoản vay của hộ gia đình cần tài sản đảm bảo, trong đó 19% số khoản vay cần tài sản thế chấp đối với hộ quế và 37% khoản vay cần thế chấp đối với hộ măng. Tài sản đảm bảo dưới dạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được yêu cầu cho 89% các khoản vay từ Agribank. Trong khi đó, khoản vay từ VBSP được tín chấp thông qua hình thức cho vay ủy thác qua Hội Liên hiệp phụ nữ có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã.
Trả nợ hàng tháng là phương phổ biến nhất cho 85,01% các khoản vay. Theo kết quả khảo sát thì 100% số hộ quế sử dụng vốn đúng mục đích, trong khi đó khoảng 73,08% hộ măng Bát Độ sử dụng vốn đúng mục đích vay vốn vào sản xuất, trồng, chăm sóc và thu hoạch măng Bát Độ. Chỉ một phần nhỏ 11,54% số hộ được vay sử dụng vốn vay vào mục đích sửa chữa nhà cửa, tiêu dùng và các mục đích khác. Các khoản vay chủ yếu được sử dụng cho các mục đích như chăm sóc đồi quế, thuê lao động thu hoạch và phơi sấy vỏ quế.
Bản thân các doanh nghiệp, HTX trong chuỗi cũng thiếu vốn lưu động để thu mua nông sản và đầu tư công nghệ chế biến sâu. Nguồn vốn vay cho doanh nghiệp chủ yếu từ Agribank và BIDV. Mặc dù các doanh nghiệp và HTX có nhu cầu vay vốn đều được tiếp cận tín dụng ngân hàng, lượng tín dụng chỉ đáp ứng được khoảng 43-44% nhu cầu vốn. Toàn bộ các khoản vay của các doanh nghiệp và HTX cần thế chấp dưới dạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn với đất và các tài sản cố định khác. Lượng vốn vay bình quân doanh nghiệp nhận được là 5,16 tỷ, đối với HTX là 3,55 tỷ đồng.
7.4 Những rào cản trong tiếp cận tín dụng chính thức
7.4.1 Rào cản liên quan đến tải sản thế chấp
Nguyên nhân hạn mức tín dụng mà các hộ, doanh nghiệp và HTX phải đối mặt là do ngân hàng cho vay với mức tối đa thường không quá 70% giá trị tài sản thế chấp. Trong khi đó, HTX chủ yếu dùng tài sản của thành viên để thế chấp ngân hàng. Ngoài ra, năng lực tài chính, năng lực quản trị hạn chế là những trở ngại lớn đối với doanh nghiệp, HTX trong tiếp cận tín dụng chính thức.
Các hợp đồng giữa bên mua và bên bán, sản phẩm trong chuỗi, sự bảo lãnh của doanh nghiệp, HTX chưa được chấp nhận bởi ngân hàng để xét duyệt cho các hộ vay. Các ngân hàng từ chối nhận tài sản lưu động, hợp đồng xuất khẩu và các nông sản làm tài sản thế chấp do chi phí quản lý và thanh lý tài sản cao. Các cuộc phỏng vấn sâu với các ngân hàng cho thấy rằng nguồn tài chính của các ngân hàng dồi dào nhưng rào cản cung ứng nằm ở chỗ người vay khó cung cấp tài sản thế chấp có giá trị và kế hoạch sử dụng vốn khả thi. Theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tổ chức tín dụng được xem xét cho khách hàng vay không có tài sản bảo đảm với mức tối đa 200 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn. Tuy nhiên, trên thực tế, Nghị định chủ yếu tạo áp lực lên các ngân hàng để cải thiện hệ thống quản trị nhằm mở rộng lượng vốn cho vay không cần thế chấp.
7.4.2 Hộ dân tộc thiểu số vẫn khó tiếp cận tín so với các hộ dân tộc Kinh
Các hộ dân tộc thiểu số thường là người nghèo, thiếu tài sản giá trị, trình độ lập hồ sơ vay vốn và trình độ quản lý hạn chế hơn các hộ dân tộc Kinh. Có thể vì những nguyên nhân này nên các hộ dân tộc Kinh nhận được lượng vốn vay cao hơn 17,35%. Nếu tín dụng giữ vai trò quan trọng trong giảm nghèo thì các chính sách nhằm tăng cường tiếp cận tín dụng và sử dụng tín dụng hiệu quả cần được quan tâm hơn đối với cộng đồng dân tộc thiểu số.
7.4.3 Liên kết chưa chặt chẽ giữa nông dân với doanh nghiệp, HTX nên tạo rủi ro khi triển khai cho vay theo chuỗi
Hiện tại, hình thức liên kết chủ yếu của các tác nhân trong chuỗi được thể hiện thông qua kinh phí ứng trước vốn cho các hộ để phục vụ cho quá trình thu gom sản phẩm. Thiếu vốn có thể dẫn đến dừng hoặc hạn chế thu mua và điều này dẫn đến măng và quế của nông dân bị tồn dư, dẫn đến mất giá và giảm chất lượng. Trong khi đó, các hợp đồng tiêu thụ và cơ chế bảo đảm, cam kết về giá và các hoạt động chia sẻ rủi ro chưa được thể hiện ở vùng nghiên cứu.
7.4.4. Tỷ lệ hộ sơ hữu tài khoản chính thức thấp
Nghiên cứu này cho thấy các hộ có sở hữu tài khoản ở ngân hàng thì khả năng tiếp cận vốn vay lớn hơn các hộ khác. Sở hữu tài khoản ngân hàng không chỉ giúp các hộ gia tăng tiết kiệm, tăng hiểu biết tài chính, tạo thuận lợi cho các giao dịch mà còn giúp ngân hàng quản lý dòng tiền của người vay dễ dàng hơn. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chỉ có 10,97 % số hộ được khảo sát có tài khoản ngân hàng và phần lớn lại là tài khoản từ ngân hàng chính sách theo các chương trình sổ tiết kiệm bắt buộc. Do đó, tăng cường tiếp cận tài khoản ngân hàng có thể giúp các hộ gia đình tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn.
7.4.5. Rủi ro sản xuất nông nghiệp và khó khăn về địa hình, xa trung tâm ở vùng núi
Vùng núi Tây Bắc với đặc điểm đất dốc, thiên tai, xa trung tâm, xa thị trường nên chi phí giao dịch cao. Trong khi đó, bảo hiểm nông nghiệp và cơ sở hạ tầng còn hạn chế. Ngoài ra, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ nên chưa phát huy được lợi thế sản xuất theo quy mô và tạo khó khăn trong triển khai cho vay theo chuỗi.
7.4.6 Năng lực hạn chế của các tổ chức chính trị xã hội trong quản lý vốn ủy thác và kết nối cung cầu tín dụng khi lượng vốn ủy thác và số hội viên tăng lên.
Các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương như hội nông dân, hội liên hiệp phụ nữ có vai trò tích cực trong giảm thiểu thông tin bất cân xứng ở thị trường tín dụng và kết nối cung cầu tín dụng. Tuy nhiên, năng lực quản lý vốn ủy thác và kết nối cung cầu của các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương còn hạn chế khi lượng vốn ủy thác tăng và số hội viên tăng lên. Trình độ cán bộ tổ tiết kiệm vay vốn ở địa bàn xã còn hạn chế trong kết nối ngân hàng với người vay vốn. Công tác nắm tình hình, kiểm tra, giám sát vay vốn ở một số tổ chức chính trị - xã hội còn triển khai chưa thường xuyên tới người vay vốn. Đặc biệt, khi số lượng hội viên tăng và nguồn vốn cho vay tăng lên, các tổ chức này thường gặp khó khăn trong quản lý nguồn vốn ủy thác.
7.4.7. Khó khăn của ngân hàng trong tham gia chuỗi để đánh giá nhu cầu và khả năng cho vay ít phụ thuộc vào tài sản thế chấp
Các ngân hàng thường gặp khó khăn trong tham gia chuỗi và thu thập thông tin để đánh giá nhu cầu và khả năng cho vay không cần thế chấp. Do đó, yêu cầu tài sản thế chấp vẫn là phương thức chủ yếu để giảm rủi ro và bảo toàn vốn. Bối cảnh cạnh tranh gia tăng đang đặt ra yêu cầu đòi hỏi các ngân hàng cần chủ động trong tìm kiếm và hợp tác với các khách hàng để triển khai cho vay hiệu quả hơn.
- . Tác động của tiếp cận trong cải thiện giá trị gia tăng và thu nhập của hộ
Kết quả ước lượng cho thấy việc mở rộng lượng vốn vay có thể cải thiện giá trị gia tăng sản phẩm và thu nhập của nông hộ trong chuỗi giá trị. Ngoài ra, mở rộng tín dụng giúp tăng khả năng của doanh nghiệp và HTX trong đầu tư, nâng cấp máy móc tinh chế sản phẩm và xuất khẩu sang. Công nghệ chế biến hiện đại hơn cũng giúp giảm thiểu các vấn đề về môi trương như bụi, các chất thải gây hại cho môi trường. Tháo gỡ các rào cản trong tiếp cận tín dụng cũng giúp tăng mối liên kết giữa doanh nghiệp, HTX với nông dân. Chính vì vậy, mở rộng cung ứng tín dụng để tăng đầu tư, nâng cấp công nghệ, cải tiến quy trình canh tác, chế biến, qua đó phát triển các sản phẩm có truy suất nguồn gốc là rất cần thiết.
8. Những hàm ý chính sách nhằm tháo gỡ rảo cản tiếp cận tín dụng của các hộ, doanh nghiệp và HTX tham gia chuỗi giá trị
Với góc nhìn tiếp cận tín dụng theo định hướng phát triển chuỗi giá trị, trên cơ cở các kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm tháo gỡ các rào cản trong tiếp cận tín dụng của hộ gia đình, HTX và doanh nghiệp tham gia chuỗi như sau:
8.1. Thúc đẩy quyền tài sản, quyền sử dụng đất và tài sản gắn với đất
Chính quyền các địa phương cần tăng cường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất để các chủ thể nông nghiệp như các hộ, doanh nghiệp và HTX có thể sử dụng thế chấp ngân hàng. Giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những diện tích được quy hoạch phát triển măng và quế là cần thiết. Thúc đẩy quyền tài sản với đất sẽ gia tăng sự yên tâm đầu tư phát triển sản xuất của các chủ thể nông nghiệp. Về phía cung tín dụng, ngân hàng có thể tránh rủi ro khi một tài sản có thể sử dụng để vay nhiều nguồn tín dụng khác nhau.
8.2. Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua mở rộng tiếp cận tài khoản chính thức và các giao dịch tài chính qua ngân hàng
Thúc đẩy tiếp cận tài khoản ngân hàng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn là cần thiết để phát triển tài chính toàn diện và tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho khu vực nông nghiệp. Sở hữu tài khoản giúp tăng các hoạt động giao dịch, đầu tư qua ngân hàng, qua đó nâng cao kiến thức về tài chính cho người dân. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sở hữu tài khoản tại ngân hàng cũng một trong những điều kiện cần để cho vay các tác nhân trong chuỗi giá trị. Thông qua tài khoản, ngân hàng có thể kiểm soát dòng tiền của bên đi vay thuận lợi hơn, qua đó sẵn lòng cho vay ít phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Ngân hàng có thể xem xét cho vay các tác nhân nếu kiểm soát được dòng tiền của chuỗi giá trị. Thông qua tài khoản tiết kiệm, ngân hàng sẽ huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để tăng đầu tư cho nông nghiệp một cách bền vững.
Nhà nước cần có tăng cường chính sách khuyến khích các ngân hàng thương mại mở rộng mạng lưới các quầy giao dịch đến vùng núi để giúp người dân tiếp cận với tài khoản ngân hàng và các dịch vụ tài chính thuận tiện hơn. Bên cạnh đó, các chương trình giáo dục tài chính cho nông dân là rất cần thiết. Các dự án ngân hàng trên nền tảng điện thoại di động nên được hỗ trợ nhiều hơn để thúc đẩy tài chính số và tài chính quốc gia toàn diện. Tháo gỡ những rào cản để người dân có thể tiếp cận với các sản phẩm tài chính cơ bản như mở tài khoản, vay vốn, chuyển tiền, tiết kiệm và bảo hiểm với chi phí hợp lý là rất cần thiết.
8.3. Đào tạo nâng cao kiến thức tài chính, marketing và kinh doanh cho nông dân thông qua các tổ chức của nông dân
Mặc dù những kiến thức về kinh tế, tài chính là rất cần thiết để giúp các hộ tổ chức sản xuất kinh doanh, lập phương án sử dụng vốn nhưng các hộ chưa được tập huấn trang bị những kiến thức này. Xây dựng kế hoạch sử dụng vốn khả thi là tiêu chí quan trọng để các ngân hàng thương mại đánh giá khả năng hoàn trả vốn và ra quyết định cho vay. Do đó, nhà nước cần kiến tạo, tăng cường các chương trình giáo dục tài chính, kinh doanh cho nông dân nhằm nâng cao năng lực lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn vay hiệu quả.
Một số vấn đề khác mà nông dân sản xuất nông sản thô phải đối mặt phát sinh từ quy mô sản xuất nhỏ của họ. Trong khi các mối liên kết chuỗi khá lỏng lẻo và việc tổ chức sản xuất theo chuỗi sẽ rất hạn chê. Vì vậy, thành lập các HTX hoạt động đúng bản chất sẽ giúp tăng sức mạnh thị trường của các hộ quy mô nhỏ. Thành viên trong các HTX cũng hỗ trợ các hộ trong chia sẻ kiến thức, giảm thiểu rủi ro, từ đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Xây dựng năng lực của các tổ chức của người nông dân là rất cần thiết để giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin trong các giao dịch tín dụng.
8.4. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong cho vay nông nghiệp
Qua khảo sát tại vùng nghiên cứu, 100% chủ hộ được phỏng vấn có điện thoại, trong đó khoảng 70% điện thoại thông minh có thể kết nối internet, truy cập các trang web, mạng xã hội và youtube. Trong khi đó, người dân hiện tại chủ yếu sử dụng điện thoại thông minh để liên lạc và giải trí. Do đó, khai thác công nghệ điện thoại thông minh để phát triển các hình thức cho vay ứng dụng công nghệ số có thể là hướng đi tiềm năng để tăng cường tiếp cận tín dụng ở nông nghiệp, nông thôn.
8.5. Tăng cường hợp tác giữa ngân hàng và các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương như Hội liên hiệp phụ nữ và Hội nông dân để thúc đẩy cho vay tín chấp
Tăng cường hợp tác, cho vay thông qua các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương như Hội liên hiệp phụ nữ và hội nông dân giúp giảm thiểu bất cân xứng thông tin ở thị trường tín dụng. Đây cũng là hình thức giúp các hộ thu nhập thấp kết nối với tín dụng chính thức với rủi ro thấp. Các tổ chức này hiểu rõ nông dân nên các khâu như lựa chọn người vay, thành lập nhóm, giải ngân, thu hồi vốn có thể giảm chi phí giao dịch và rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, các tổ chức này cần được được nâng cao năng lực trong quản lý vốn vay ủy thác, đặc biệt là khi lượng vốn ủy thác và số hội viên tăng lên. Hình thức cho vay ủy thác cũng có thể xem xét, vận dụng để cho vay thông qua các HTX, qua đó chuyển tải vốn đến các hộ thành viên HTX. Tuy nhiên, HTX phải thực sự hoạt động đúng bản chất để phát huy sức mạnh tập thể và kết nối các hộ nhỏ lẻ với thị trường và tiếp cận nguồn lực.
8.6 Nhà nước cần nâng cao hiệu quả kiến tạo, xây dựng và phát triển các kênh hợp tác, kết nối cung - cầu tín dụng và các bên liên quan khác nhằm chia sẻ thông và tăng cường cung ứng tín dụng cho nông nghiệp.
Nhà nước cần đảm bảo tính chính xác và tin cậy của các thông tin về đăng ký kinh doanh, báo cáo kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp, HTX để giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong xét duyệt hồ sơ vay vốn. Nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông là cần thiết để giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả kinh doanh nông nghiệp. Ngoài ra, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong cung ứng tín dụng nông nghiệp sẽ tạo ra động lực và sự chủ động của các tổ chức tín dụng trong tìm kiếm khách hàng. Cạnh tranh lành mạnh trong cung ứng tín dụng giúp các chủ thể nông nghiệp có nhiều lựa chọn hơn với chi phí vay vốn hợp lý hơn.
Ngân hàng cần chủ động hơn trong xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với phía cầu tín dụng và các cơ quan quản lý nhà nước để mở rộng tín dụng nông nghiệp ít phụ thuộc tài sản thế chấp. Sự tham gia chủ động hơn vào chuỗi giá trị như một đối tác thực sự giúp ngân hàng tăng cơ hội cho vay ít phụ thuộc tài sản thế chấp. Các ngân hàng cần tích cực tìm hiểu sự vận hành của chuỗi để nắm rõ nhu cầu và đánh giá tính khả thi cho vay vốn đối với các tác nhân, từ đó, ngân hàng sẽ linh hoạt hơn trong quyết định cho vay. Thay vì yêu cầu phải có sổ đỏ và các tài sản thế chấp khác, ngân hàng có thể xem xét tài sản trên đất, tài sản hình thành từ vốn vay, các hợp đồng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ để ra quyết định cho vay. Đồng thời, ngân hàng cần điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn vay, nhất là các khoản vay trung và dài hạn cho phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Ứng dụng công nghệ số để xây dựng các kênh hợp tác nhiều bên giữa ngân hàng, nông hộ, doanh nghiệp, HTX và các bên liên quan khác là cần thiết nhằm kết nối cung - cầu tín dụng trong phát triển chuỗi giá trị. Các kênh hợp tác và chia sẻ thông tin có thể triển khai thông qua các cuộc gặp gỡ thường kỳ, chia sẻ dữ liệu qua các kênh dữ liệu số (digital platform). Các kênh hợp tác sẽ thúc đẩy chia sẻ thông tin, thảo luận giải quyết các vấn đề tín dụng giữa các bên liên quan.
8.7 Thúc đẩy các điều kiện để triển khai cho vay theo chuỗi
Như đã phân tích, các hộ, doanh nghiệp và HTX đều gặp bất lợi (do không được vay hoặc vay nhưng với lượng nhỏ) khi vay vốn đơn lẻ từ nguồn tín dụng ngân hàng. Vì vậy, tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị có thể giúp mở rộng tín dụng ngân hàng cho các tác nhân tham gia chuỗi. Để thúc đẩy cho vay theo chuỗi, thúc đẩy tiêu thụ qua hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp,HTX là cần thiết. Ngoài ra, xây dựng các vùng chuyên canh nông nghiệp giúp tận dụng lợi thế sản xuất theo quy mô, qua đó giảm giá thành đơn vị sản phẩm. Các kinh nghiệm cho vay theo chuỗi có thể tham khảo kinh nghiệm quốc tế để ứng dụng vào điều kiện của nước ta. Mô hình cho vay theo chuỗi ở Kazakhstan có thể sẽ là gợi ý tốt cho việc triển khai cho vay theo chuỗi. Theo đó, các ngân hàng thương mại cung cấp những gói tín dụng cho các doanh nghiệp, HTX “đầu tầu” trong chuỗi. Sau đó, các doanh nghiệp, HTX này lại cho các hộ nông dân vay lại để đầu tư sản xuất với cam kết bán lại nông sản khi thu hoạch với giá thỏa thuận trước. Các hộ nông dân trong chuỗi có thể nắm bắt thông tin thị trường và tự do bán sản phẩm của mình cho bất cứ đối tác nào mà họ cho là đáng tin cậy. Tuy nhiên, tất cả những hộ nông dân tham gia chương trình liên kết đều phải duy trì một tài khoản tại ngân hàng cho vay. Ngân hàng có quyền chuyển tiền từ tài khoản của hộ sang tài khoản của doanh nghiệp, HTX tương đương giá trị khoản vay nếu các hộ không hoàn trả nợ đúng hạn hoặc bán sản phẩm cho đối tác ngoài hợp đồng. Ngoài ra, các hộ sẽ đối mặt với rủi ro không được tiếp tục nhận khoản vay trong những năm kế tiếp nếu phá vỡ hợp đồng. Trong chuỗi cung ứng này bắt buộc sự tồn tại mối quan hệ khách hàng đối tác lâu dài.
Nguồn: TS. Đỗ Xuân Luận
